Ngọc Chiến là một trong 16 xã của huyện Mường La, cách trung tâm huyện 34 km. Phía Đông giáp xã Túc Đán, huyện Trạm Tấu, tỉnh Yên Bái; phía Tây giáp xã Nặm Păm; phía Nam giáp xã Chiềng Muôn, huyện Mường La, tỉnh Sơn La; phía Bắc giáp xã Nặm Khắt, huyện Mù Cang Chải, tỉnh Yên Bái. Đây là địa bàn sinh sống của đồng bào các dân tộc Thái, Mông, La Ha và Kinh. Người Mông ở Ngọc Chiến thuộc 2 nhóm: Mông Đu (Mông Đen) và Mông Lềnh (Mông Hoa). Người Mông là tộc người còn nhiều giá trị văn hóa ít bị mai một nhất so với các tộc người khác cùng sinh sống như: nghề thủ công chế tác khèn, nhuộm chàm, thêu dệt thổ cẩm, rèn,... Đặc biệt là loại hình nhà ở mang dấu ấn tộc người, nhà ở của người Mông có những đặc trưng về kiến trúc không lẫn với nhà ở của các cộng đồng người trong vùng. Tuy nhiên, trong quá trình sinh sống, giao lưu, với các tộc người khác cũng như tác động của điều kiện tự nhiên nhà ở của người Mông cũng bị tác động và ảnh hưởng rõ nét.

            - Nhà ở của người Mông tại xã Ngọc Chiến hiện nay: Nhà làm bằng gỗ pơ mu và các loại gỗ quý trên núi cao, nơi mây mù bao phủ. Họ san nền bằng phẳng để dựng nhà, nhà thường dựa vào núi hoặc nơi có địa thế dựa lưng vững chắc, kiêng quay lưng ra các khe sông, suối, vực sâu. Chất liệu làm nhà là gỗ, tre, nứa,... người Mông tận dụng sự phong phú về nguyên vật liệu trong tự nhiên. Nhà thấp, cửa ít mở có tác dụng giúp cho không gian mát mẻ về mùa hè, ấm áp về mùa đông, ngoài ra còn có thể giúp chống thú dữ và sương mù bao phủ. Nhà thông thường có 3 gian, 2 chái, cửa ra vào gồm một cửa chính và 2 cửa phụ, bên cạnh đó còn có 2 cửa sổ, không có cửa sổ hậu vì thế nhà người Mông thường ít cửa hơn so người người Kinh. Mái nhà không lợp ngói như người Thái mà được lợp hoàn toàn bằng gỗ.

            Gian bên phải vào là bếp và buồng ngủ gia chủ, gian bên trái vào là giường khách, bếp sưởi hoặc bếp lò, gian giữa rộng hơn hai bên đặt nơi thờ cúng tổ, đồng thời là nơi tiếp khách và ăn uống của gia đình. Gian ngủ của vợ chồng, con cái được bố trí kín đáo để đảm bảo sinh hoạt riêng tư. Các cửa được mở vào trong và thường có bục, cửa phụ dành cho phụ nữ mới sinh để qua lại, khi gia đình có khách mới mở và đi cửa chính. Trong nhà có chiếc cột trụ đặt ở vì của gian giữa nối với nóc nhà. Cột được đẽo vuông hoặc tròn, có đường kính 6 - 8cm. Khi trong nhà có công to việc lớn, gia chủ thắp hương lên bàn thờ hoặc nơi thờ cúng và ở chân cột trụ để báo cáo với tổ tiên, thổ công biết. Không gian bên ngoài nhà người Mông thường lấy đá xếp thành tường bao hoặc rào bằng tre, phên gỗ để che chắn xung quanh nhà.

            Quan niệm của người Mông cho rằng, mọi thành viên sống trong nhà đều khỏe mạnh, làm ăn phát đạt là nhờ những lực lượng siêu nhiên phù hộ. Lực lượng siêu nhiên trong văn hóa Mông gồm các loại ma ngự trong ngôi nhà. Theo Tiến Sĩ Trần Hữu Sơn thì: Xử ca, là ma có vị trí quan trọng trong hệ thống các ma nhà người H'mông. Xử ca gắn liền với ý niệm giàu có, nhất là về tiền bạc. Nơi thờ xử ca là tấm ván hậu gian giữa nhà. Nơi thờ được gián hai miếng giấy bản màu vàng và bạc cắm 3 (hoặc 9) lông gà, bôi ít máu gà. Mỗi năm cúng xử ca một lần vào đêm 30 tết,... Ma cột chính: cột chính là cột giữa của vì kèo thứ 2 ,... cột tượng trưng cho sự hưng thịnh của gia đình, liên quan đến sức khỏe và vận mệnh của gia đình,...Ma cửa (xìa mềnh) có nhiệm vụ như người lính gác cửa, ngăn ma ác vào nhà, bảo vệ gia súc, bảo vệ của cải, bảo vệ các hồn ngăn cho các hồn trong nhà không bỏ đi,...Ma buồng (đá trùng), Ma bếp (đá kho trù), Ma bếp lửa ở gian giữa (hú sinh), Ma bảo vệ hồn lúa, hồn ngô. Đối với người Mông, nhà ở cũng có linh hồn của ngôi nhà, chính là những con người sống trong đó. Ngôi nhà ở vừa đại diện cho văn hóa vật thể của tộc người vừa chứa đựng trong đó những giá trị văn hóa tinh thần.

- Cấu trúc nhà: Với chất liệu làm nhà hoàn toàn là từ thực vật, tận dụng sự phong phú về thực vật, hiểu biết môi trường, độ ẩm lớn, nhiều thú dữ, mặt bằng không bằng phẳng,... Nhà ở đã hình thành lối sống gần gũi với thiên nhiên, cấu trúc của nhà là không gian mở ra nhiều phía, tiếp cận và hòa đồng với thiên nhiên. Kiểu dáng nhà thấp mang nét đặc trưng riêng biệt, đến bất kỳ bản người Mông nào ở huyện Bắc Yên cũng bắt gặp cấu trúc ngoại thất của nhà ở bao gồm: nhà chính để ở, các công trình phụ cận như nhà phụ, chuồng gia súc gia cầm, vườn rau.

- Mặt bằng: Nhà ở có cấu trúc phổ biến là loại nhà 3 gian hai chái. Mái dốc thấp nên trong nhà thường thiếu ánh sáng, xung quanh được bưng bằng ván gỗ. Bộ vì kèo thường là 3, 5, 7 cột hoặc những biến thể 4 cột. Nhà có cấu trúc không gian theo chiều cao, chia làm 2 tầng cơ bản: nền và gác. Khi bước vào cửa nhà chính, nhìn thẳng vào gian chính giữa sẽ là bàn thờ tổ tiên, người Mông gọi là "xử ca" của gia đình. Bàn thờ tổ tiên được dán giấy và lông gà, ống tre để cắm hương, cách bài trí khá đơn giản. Mỗi chi, mỗi họ sẽ có cách bài trí gian thờ khác nhau.

Gác trong nhà được ngăn bằng gỗ phía bên trên phòng của chủ nhà, kích thước tương đương với kích thước của bếp, có chiều cao vừa tay với của người trưởng thành. Gác có tác dụng dùng để cất giữ các loại thực phẩm khô và để các loại hạt ngô, thóc,... gác được tạo bởi những tấm ván gỗ một đầu gác lên xà ngang một đầu gác lên vách nhà. Để lên gác người Mông làm cầu thang là thanh gỗ đặc đẽo vát tương ứng với bước chân người trưởng thành.  Ngoài ra, trong nhà còn có thêm các bộ phận phụ nhưng lại không thể thiếu đó gác bếp, gác để bát hoặc gác treo đồ ăn.

- Cấu trúc khung nhà: Bộ vì kèo khá đơn giản, gồm: cột, xà, kèo, thanh ngang,... nhằm tạo nên hình hài của ngôi nhà đồng thời là bộ phận chính tạo nên sự vững chãi, lien kết các bộ phận, các gian với nhau. Trong bộ vì kèo thì hệ thống cột là điểm tựa cho ngôi nhà có nhiệm vụ trụ vững trên mặt đất. Các bộ phận khác như xuyên, kèo,... đều liên kết với cây cột thông qua các lỗ đục trên thân cột. Nhà có 2 loại cột: cột cái và cột quân là những cây cột có kích thước lớn nhất (25 - 30cm) cột quân nằm ở ngoài cùng 2 bên còn cột cái nằm ở giữa, các cột sẽ chịu lực theo phương thẳng đứng từ trên xuống. Trước đây nhà ở chủ yếu làm cột tròn, dọc theo hình dáng tự nhiên của thân cây, tuy nhiên hiện nay đa số làm nhà cột vuông, cột vuông có kích thước nhỏ hơn so với cột tròn nhưng lại rất thuận tiện trong việc bật mực và đục lỗ xuyên, khi lắp các bộ phận của khung nhà cũng dễ dàng hơn, thông thường nhà gồm 8 cột cái và 12 cột quân.

Nhà ở truyền thống của người Mông xã Ngọc Chiến

Kèo là những thanh gỗ vắt chéo lại thành hệ thống kết nối các đầu cột của vì. Đây là bộ phận kết hợp cùng với xà tạo thành hình dáng mái nhà. Kèo được lắp vào hệ thống cột trong cùng bộ vì tạo nên hình chóp của mái. Phía đầu xuyên qua các rãnh mộng, thắt, trước khi đục các rãnh, lỗ mộng cần phải tính toán đến kích thước của kèo sao cho vừa khít. Xuyên là hệ thống những thanh gỗ chịu lực theo phương nằm ngang, xuyên qua các thân cột từ nhiều vị trí khác nhau. Xuyên có chức năng liên kết với các cột tạo thành bộ vì kèo và liên kết các bộ vì kèo với nhau tạo thành bộ khung nhà. Xà có hai chức năng cơ bản là dung để xuyên ngang và xuyên dọc: xuyên ngang là xuyên nằm trong bộ vì kèo, liên kết với hệ thống cột, kèo tạo nên bộ vì kèo; xuyên dọc là xuyên tiên kết các bộ vì kèo lại với nhau. Để bộ khung được vững chắc, có sức bền chịu được thời tiết khắc nghiệt thì cột, xà, xuyên, kèo phải làm từ các loại gỗ tốt.

- Cấu trúc mái: Hệ thống các bộ phận tạo thành mái nhà gồm: xà nóc, rui, mè, cạp mái,gỗ lợp có tác dụngche chắn mưa nắng cho con người sống trong nhà. Trước đây mái nhà thường được lợp bằng gỗ pơ mu, mái gỗ có kích thước rộng 50cm, dài 1,2m, dày 3 – 5cm được đan xen kẽ và cố định với rui, mè bằng hệ thống dây buộc. Mái nhà mang đặc trưng riêng biệt dễ nhận dạng, độ bền cao mang tính văn hóa vùng miền rõ nét. Các cây đòn tay trong hệ thống mái dài đều từ trên đỉnh nóc xuôi xuống hai bên theo chiều vuông góc với kèo. Đòn tay có thể làm bằng gỗ hoặc tre, thẳng chắc để có thể chịu lực tốt. Rui rải đều theo chiều xuôi của mái theo chiều gốc quay xuống dưới, bên trên các hàng rui là những thanh mè được dải vuông góc tạo thành các ô vuông. Các bộ phận của bộ khung mái được cố định với nhau bằng lạt, mây buộc. Đối với nhà lợp gỗ thường có thêm cạp mái, là những thanh tre giống như những thanh mè. Cạp mái được sử dụng để ép chặt mái gỗ xuống khung mái,  mái có dốc nên có thể thoát nước nhanh, đảm bảo cho ngôi nhà không bị dột khi trời mưa to. Nhìn chung mái nhà thường phủ xuống thấp cách mặt đất 170cm, do cấu tạo 4 mái, hai mái chính và hai chái nên có lác dụng cản gió bão và không bị hắt mưa vào nhà.

- Vách và hệ thống cửa: Là hệ thống bưng, rào, trình... để che chắn xung quanh nhà hoặc ngăn các buồng, gian,... đa số nhà ở làm bằng vách gỗ, hệ thống vách bao quanh bưng kín để che gió lạnh. Chính vì thế mà trong nhà thường bí và thiếu ánh sáng. Hệ thống cửa khá đơn sơ, thông thường chỉ mở một cửa ra vào ở đầu chái, cửa ra vào được làm bằng gỗ, có hai loại cửa đó là cửa chính và cửa phụ, cửa phụ ở 2 chái. Tất cả các cửa đều có bục cửa, cửa có hai cánh được mở vào trong. Nhưng dù là loại cửa nào thì cũng có cấu tạo tương tự nhau, đều được cố định với khung cửa thông qua chiếc trụ ngăn ở hai đầu trên và dưới có lác dụng làm trụ xoay khi đóng mở. Cửa được chốt bằng một chiếc then cài ngang giữa cánh cửa và khung đối với cửa một cánh, và giữa hai cánh cửa đối với cửa hai cánh.

Nhà người Mông ở Ngọc Chiến hệ thống cửa sổ ít khi mở, thường mang tính chất tượng trưng, không thoáng, thiếu ánh sáng. Cửa sổ có cấu tạo tất đơn giản, chỉ có thanh gỗ bắc ngang cách mặt đất khoảng 60cm, chiều rộng thì tùy mỗi gia đình, có thể làm 80cm hay 1m cũng có thể làm nhỏ hơn. Ở giữa có thanh ngang và các thanh chấn song làm bằng gỗ vuông hoặc tròn đơn giản và không chạm khắc trang trí hoa văn. Trong những năm gần đây, nhà có biến đổi về cấu trúc phên, vách, cửa và cửa sổ. Thay cho vách phên gỗ thô sơ, mái gỗ, nền đất thì đã xuất hiện vách xây hoặc luồn gạch, mái được lợp bằng các loại vật liệu công nghiệp mới, nền được dát đá, gạch. Hệ thống cửa cũng được cải tiến theo hướng chắc chắn và mở rộng hơn, thoáng hơn để ánh sang vào nhà. Nhà ngày càng trở nên kiên cố, chắc chắn hơn bởi ngoài mục đích che nắng, che mưa nó còn có tác dụng tích trữ của cải, vật chất, đặc biệt là nhận diện những gia đình có kiều kiện kinh tế trong vùng.

 

 

 

Chiềng Ngần là một trong 12 xã, phường của thành phố Sơn La. Phía đông và đông nam giáp 2 xã: Mường Bú (huyện Mường La), Mường Bằng (huyện Mai Sơn); phía tây giáp các phường: Quyết Tâm, Quyết Thắng và Chiềng Sinh (thành phố Sơn La); phía nam giáp xã Chiềng Mung (huyện Mai Sơn); phía bắc giáp xã Chiềng Xôm, phường Quyết Thắng, phường Chiềng An (thành phố Sơn La). Chiềng Ngần có nhiều nét đặc trưng của văn hóa Thái đặc biệt là cộng đồng người Thái Đen được thể hiện rõ nét trong trang phục truyền thống. Trang phục phụ nữ với chiếc áo cóm, trên đường nẹp xẻ dọc giữa khuôn ngực có đính hai hàng cúc có hình bướm, ong, ve sầu (thường gọi chung là cúc bướm), được các nghệ nhân chế tác từ bạc, nhôm, được người Thái Đen lựa chọn, ưa chuộng và gìn giữ nhiều đời nay.

Cúc bướm (tiếng Thái gọi là mắk pém) vừa là vật dụng để nối 2 tà áo cóm với nhau, vừa là đồ trang sức trang trí cho chiếc áo cóm thêm phần nổi bật - trở thành nét đặc trưng rất riêng trong trang phục người Thái. Cúc được người thợ làm thủ công bằng nguyên liệu nhôm nguyên chất đòi hỏi người thợ phải tập trung cao độ, tỉ mỉ, chăm chút, khéo léo, tinh tế trong quan sát, sáng tạo trong từng khâu để tạo ra chiếc cúc đặc trưng, được đông đảo người dân đón nhận. Để quy trình chế tác có hiệu quả phải trải qua các khâu từ chuẩn bị các loại khuôn, lò nung nguyên liệu... cho đến kỹ thuật đúc, dập, cắt thì người thợ phải có bộ đồ nghề chuyên dụng, đa dạng tương ứng với từng khâu trong chuỗi quy trình làm cúc.

- Lò nung: lò được xây bằng gạch đỏ đắp bùn pha trấu, lò dùng để nung cho nguyên liệu nhôm nóng chảy, lò trước kia to so với hiện nay do để đốt bằng củi. Ngày nay đã chuyển sang dùng than đá, với diện tích lò cao 80cm, rộng 70cm, cửa lò rộng 30cm, có tác dụng khi nung chảy người thợ dùng muôi sắt múc nguyên liệu, lò được ngăn thành 2 lớp, lớp dưới cao 20cm rộng 70cm, để thoáng có tác dụng đưa không khí vào hoặc để quạt (dùng bễ quạt) và chứa phần sỉ than. Phần trên được ngăn cách một tấm phên đan, ghép bằng sắt ngăn không cho than rơi xuống phía dưới, trên tấm phên là một lớp than bùn rồi đến than đá trên than đá đặt chiếc chảo gang, dày đủ để nung 30kg nhôm nguyên chất, trên cùng là nắp lò được gia công từ tấm bìa sắt cứng.

- Khuôn đúc: khuôn được làm bằng đất nung, được tạo bởi đất sét được nung đỏ qua lửa sẽ chịu được nhiệt độ cao, có độ bền, rễ sửa chữa. Khuôn dùng để đúc phôi, phần cúc thô ban đầu là khâu đầu tiên trong tạo hình cúc bướm, diện tích khuôn rộng 10cm, dài 25cm, cao 5cm, một đầu hở để đổ nguyên liệu. Khuôn gồm hai mặt ốp/ghép vào nhau, một chiếc trơn, một chiếc được người thợ gia công 24 con tương ứng mỗi con một cúc, độ dày của cúc dao động từ 1mm - 1,5mm, khi đúc 2 chiếc khuôn ốp vào nhau để chắc và không chảy nguyên liệu ra ngoài người ta dùng 2 chiếc kẹp tre vam dài 0,7cm, dài 40cm cố định một đầu và đầu còn lại được khóa bằng dây thép để đúc xong tháo dây thép ra và lấy phôi. Để tránh nóng người ta thường tạo đế bằng gỗ và mặt trên được lót bằng bằng vải ướt sao cho khi đúc, tháo kẹp tre/vam không bị cháy thanh tre và tránh nóng cho người đúc. Khuôn được làm thủ công bằng các vật liệu tự nhiên tuy khá đơn sơ nhưng lại có độ bền, chắc chắn, nhẹ và dễ di chuyển.

khuôn đúc

- Khuôn dập: khuôn dập được làm thủ công trên đoạn sắt đặc có đường kính 6cm hình trụ một đầu được gắn vào thanh gỗ để làm đế hoặc gắn phần đế gỗ xuống đất sao cho khoảng cách giữa mặt đế lên mặt dập là 10cm. Mặt khuôn được khắc chìm/âm bản hình con bướm đực và bướm cái, được người thợ dùng các thanh, đoạn sắt nhọn khắc trực tiếp bằng tay, tạo hình con bướm rồi khắc các đường hoa văn, họa tiết trên thân con bướm, sao cho độ dày mỏng, nông, sâu phải đảm bảo đến tạo hình, chất lượng của cúc. Mỗi một chiếc khuôn khoảng 1,5 - 2 năm là phải khắc lại cho họa tiết chìm sâu xuống bởi đúc phôi xong chuyển qua dập người thợ dùng búa và phôi đặt lên khuôn đập mạnh tạo hình cúc bướm. Khi dập phôi và khuôn với nhau qua tác động bằng búa nhiều lần và liên tục khuôn mòn đi dẫn đến phần cổ họa tiết bướm cái mỏng khi sử dụng áo cóm dễ bị gãy.

- Khuôn cắt: khuôn cắt được gia công bằng thanh sắt đặc, khuôn nhỏ ở phần cán và phình to phần đầu, khuôn dài 10 – 12cm, một đầu cán và một đầu được tạo hình khá cung phu khoét sâu vào thân khuôn tạo hình gờ, đường bao hình cúc để cắt đập lên phần khuôn dập đã tạo ra. Khuôn không có đủ các chi tiết như thân, đầu, họa tiết,.. mà chỉ có hình diềm hay còn gọi là hình bên ngoài/đường bo, hình bao quanh. Đặc biệt hình cắt khi cắt phải khớp với hình khuôn dập. Thợ dùng khuôn cắt đặt lên trên sao cho khớp với hình khuôn dập đã tạo rồi dùng búa đập nhằm loại bỏ phần nguyên liệu thừa xung quanh hình cúc. 

Khuôn cắt

- Các dụng cụ khác: búa cầm tay với nhiều kích cỡ dùng để đập khi cắt, dập, chỉnh sửa hoàn thiện. Đục bằng sắt nhọn đầu dùng để đục lỗ trên thân cúc, mỗi chiếc cúc đục 4 lỗ để đơm cúc vào áo, một thanh gỗ dài 80cm dầy 15cm dùng để tì cúc khi đục, một trụ gỗ tròn đường 35cm cao 50cm dùng cho khuôn cắt hình cúc bướm, mỡ động vật dùng để nhúng khuôn cắt và bôi khuôn dập cho trơn dễ làm và chống dính, muôi/thìa múc nguyên liệu,...

            Để tạo ra bộ cúc được người dân tin dùng người thợ đã sáng tạo ra các loại khuôn trong chế tác bằng phương pháp thủ công. Mỗi loại khuôn đều đóng vai trò quan trọng trong quá trình chế tác. Bộ dụng cụ và các loại khuôn không thể thiếu trong quá trình chế tác, cúc có đảm bảo chất lượng hay không phụ thuốc rất lớn vào chất lượng khuôn và dụng cụ chết tác. Là nghề thủ công truyền thống với chất liệu nhôm dễ kiếm dễ sử dụng, đặc biệt là giá thành rẻ và có độ bền cao, quy trình sản xuất được đúc kết từ nhiều thập kỷ, sản phẩm phù hợp với tập tính sử dụng, đáp ứng các nhu cầu của cộng đồng cũng như điều kiện sống của người Thái nói riêng và cộng đồng các dân tộc Sơn La nói chung.

           

Hang Chú là xã vùng cao của huyện Bắc Yên nằm cách Trung tâm huyện lỵ 52km về phía Tây Bắc, với 100% là người Mông sinh sống. Người Mông có lịch sử cư trú lâu đời tại xã, là tộc người có một nền văn hóa phong phú và đậm đà bản sắc được thể hiện trong đời sống với nhiều phong tục, nhiều điệu múa hay, kho tàng truyện cổ tích, thần thoại,... đặc biệt là nghề rèn bằng phương pháp thủ công. Nghề tồn tại từ đời này qua đời khác tạo nên nét riêng biệt của cộng đồng người Mông xã Hang Chú, đồng thời đáp ứng nhu cầu sử dụng thành quả lao động của chính cộng đồng người Mông tạo ra.

Tà Xùa là một xã vùng cao còn nhiều khó khăn, cách thị trấn huyện Bắc Yên 14,5km và cách trung tâm thành phố Sơn La khoảng hơn 100km theo hướng Đông Bắc. Đây là địa bàn cư trú của tộc người Mông với hai nhóm chính là Mông Hoa và Mông Đen. Theo số liệu thống kê cuối năm 2017, toàn xã có 99,57% dân số là tộc người Mông, còn lại là người Kinh và người Thái. Khoảng 20 năm trở lại đây, dưới tác động của sự phát triển kinh tế - xã hội đất nước nói chung và sự đầu tư cơ sở hạ tầng của địa phương nói riêng, đời sống vật chất và đời sống tinh thần của đồng bào Mông ở Tà Xùa cũng từng bước được cải thiện theo hướng nâng cao chất lượng. Đời sống người dân sung túc hơn, lớp trẻ được đi học trong đó có nhiều người vươn lên trở thành cán bộ trong hệ thống chính quyền và hệ thống giáo dục địa phương, nhiều hủ tục lạc hậu được xóa bỏ... Bên cạnh đó, những nét đẹp văn hóa trong đời sống cộng đồng vẫn được bảo lưu, gìn giữ. “Kéo vợ” được coi là nét độc đáo, khác lạ của đồng bào Mông so với cộng đồng các dân tộc khác trên đất nước Việt Nam. Tuy vậy, dưới ảnh hưởng của đặc điểm vùng miền nên ở mỗi địa phương tập tục này cũng được thực hiện với những thủ tục khác nhau, trong đó “kéo vợ” của người Mông ở Tà Xùa là một điển hình.

“Kéo vợ” trong tiếng Mông gọi là “hay pù” - là một tập tục đặc biệt của người Mông. Kéo vợ được coi là cách thức thể hiện giá trị của người con gái khi gả về nhà chồng. Trong quan niệm của người Mông ở xã Tà Xùa, một cô gái không được “kéo” về nhà chồng thì cô gái đó sẽ không được cộng đồng và gia đình chàng trai coi trọng. Sau này khi gia đình hoặc vợ chồng khúc mắc với nhau thì cô gái cũng sẽ không có quyền được lên tiếng vì suy nghĩ chính cô gái là người chủ động chạy theo chàng trai về nhà chồng. Vì vậy, từ khoảng giữa thập niên 80 trở lại đây việc tổ chức “kéo vợ” đối với người Mông đã có nhiều thay đổi chỉ còn tồn tại mang tính chất hình thức. Nhưng đây lại là nghi lễ bắt buộc, không cặp vợ chồng nào có thể bỏ qua. Chàng trai, cô gái người Mông sau một khoảng thời gian yêu đương, tìm hiểu nhau để tiến tới hôn nhân thì bước đầu tiên để hợp lí hóa vấn đề này là phải tổ chức kéo vợ. Thủ tục hoàn toàn được thực hiện trên nguyên tắc tự nguyện, sau khi cô gái đã chấp nhận làm vợ chàng trai. Việc “cướp vợ” không diễn ra hoặc có chăng cũng chỉ là một vài trường hợp trong xã hội cũ.

          Để chuẩn bị tổ chức kéo vợ, chàng trai phải thông báo với bố mẹ dự định của mình để bố mẹ nhờ người xem ngày. Người Mông quan niệm, ngày tốt sẽ là các ngày chẵn trong tháng, đặc biệt là các ngày lợn, ngày rồng, ngày chó. Ngược lại, ngày gà và ngày thỏ được xem là những ngày đại kị của họ. Sau khi nhận được thông báo của thầy Mo về ngày tốt, công việc kéo vợ bắt đầu được chuẩn bị. Đầu tiên, bố mẹ chàng trai phải nhờ từ 1 đến 2 người là anh em họ hàng hoặc láng giềng hiểu biết phong tục tập quán, giỏi ăn nói để cùng con trai đi kéo vợ. Cùng lúc đó, chàng trai cũng phải nhờ cậy thêm 1 số bạn bè thân thiết đi cùng hỗ trợ. Thông thường, đoàn kéo vợ của nhà trai sẽ có từ 4 đến 5 người. Số lượng này không cố định, tùy thuộc vào điều kiện sản xuất là những ngày nông nhàn hay ngày mùa bận rộn mà số người có thể nhiều hơn hoặc ít hơn.

          Trước ngày kéo vợ, chàng trai và cô gái đã bàn bạc, thống nhất với nhau về thời gian và địa điểm kéo. Chàng trai cũng nhân dịp cô gái lên nương hay xuống chợ một mình... để giới thiệu một số bạn bè của mình cho cô gái quen biết trước để khi tổ chức kéo vợ cô gái sẽ không bị bất ngờ. Người Mông thường tổ chức kéo vợ vào khoảng thời gian ban đêm. Người ta kiêng kéo ban ngày bởi cho rằng ban ngày đang là thời gian đi làm, nếu kéo vợ vào ban ngày thì chứng tỏ đó là cô gái lười biếng không chịu làm việc. Và như vậy cũng sẽ bị phạt vạ. Buổi tối ngày kéo vợ, đoàn nhà trai đã sớm đến gần nhà cô gái tuy nhiên họ phải tuyệt đối giữ bí mật, nấp ở một chỗ an toàn không được để gia đình nhà gái phát hiện. Đến thời gian đã hẹn, đợi bố mẹ cô gái ngủ say, chàng trai sẽ di chuyển đến gần vách phòng ngủ của cô gái và gõ nhẹ vào vách báo hiệu rằng chàng trai đã đến để cô gái chuẩn bị. Ngay khi cô gái bước chân ra khỏi cửa, chàng trai phải nhanh chóng nắm lấy tay cô gái dắt ra xa nhà khoảng cách 20, 30m sau đó sẽ bật đèn pin làm ám hiệu, gọi các bạn đang nấp ở một chỗ gần đó ra giúp kéo cô gái chạy nhanh về phía trước. Quá trình này phải được thực hiện một cách nhanh chóng, cẩn thận, nhẹ nhàng để không làm kinh động đến bố mẹ cô gái đang ngủ trong nhà. Trường hợp nếu bị gia đình nhà gái phát hiện, chàng trai và bạn của mình vẫn tiếp tục kéo cô gái bỏ chạy. Trong khi đó, hai người lớn tuổi được bố mẹ chú rể nhờ cậy đi cùng sẽ đảm nhận trọng trách ở lại nói chuyện cùng bố mẹ cô gái. Để tránh xô sát, 2 người này phải ăn nói thật mềm mỏng, khéo léo, thuyết phục gia đình nhà gái để họ đồng ý không đuổi theo nữa. Đồng thời, đoàn nhà trai sẽ phải đưa cho bố mẹ và những người họ hàng nhà gái đuổi theo, mỗi người số tiền tầm 20 - 30 nghìn, cũng có thể nhiều hơn tùy điều kiện gọi là tiền lễ để làm dịu tình hình. Về phía nhà gái, sau khi nghe người nhà trai phân tích lý lẽ phải trái sẽ nhận tiền và không đuổi theo nữa mà ngầm đồng ý để đoàn nhà trai kéo con gái mình đi.

          Đoàn kéo dâu phải gấp rút kéo cô gái ra khỏi bản một cách nhanh nhất. Thông thường họ sẽ không chọn những con đường vẫn hay đi mà sẽ đi đường nương, đường tắt... chủ yếu để đánh lạc hướng nhà gái, khiến họ không biết đường nào để đuổi theo. Sau khi xác định đã không còn người đuổi theo thì họ thả tay để cô gái tự mình đi. Đoàn người sẽ đi bộ suốt đêm trở về. Khi cách nhà trai khoảng 1km, chú rể cử 1 người trong số các bạn đi cùng chạy về trước gọi cửa, thông báo với bố mẹ chàng trai đã sắp kéo dâu về đến nhà để mọi người thức dậy mở cửa, đón dâu mới. Lúc cô dâu bước chân qua ngưỡng cửa nhà chàng trai cũng là lúc thủ tục kéo vợ hoàn thành. Những người tham gia kéo vợ trở về nhà nghỉ ngơi và sáng sớm ngày mai sẽ quay lại tham dự bữa cơm cảm ơn do gia đình nhà trai thết đãi.

          Có thể nhận thấy, xét về bản chất “kéo vợ” của người Mông được xem là một việc làm văn minh bởi nó được thực hiện dựa trên sự thống nhất và tự nguyện của cả đôi bên trai, gái. Chỉ sau khi cả hai tìm hiểu và cùng mong muốn được “về chung một nhà” thì khi đó thủ tục này mới được thực hiện. Thiết nghĩ cần phải bảo lưu và phát triển nét đẹp văn hóa này trên cơ sở có sự định hướng của Nhà nước, tuân thủ các quy định về tuổi kết hôn trong Luật hôn nhân và Gia đình nhằm đảm bảo vừa thực hiện đúng quy định của pháp luật vừa bảo lưu được nét văn hóa mang đặc trưng tộc người theo định hướng xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam “đa dạng trong thống nhất”.

Tài liệu tham khảo

  1. Báo Sơn La Online, “Xã Tà Xùa”, <http://www.baosonla.org.vn:8080/bai-viet/82/ta%20xua>, truy cập 25/01/2019.
  2. Hồ Ly Giang (2004), Dòng họ người Hmông Trắng (quan nghiên cứu ở bản Mô Cổng, xã Phỏng Lái, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La), Khóa luận tốt nghiệp đại học, Trường ÐH KHXH&NV - ÐHQG TP Hồ Chí Minh.
  3. Ninh Văn Hiệp, Tuấn Dũng, Hoàng Quyết, Trương Thị Xứng, Bùi Ngọc Quang (Sưu tầm, giới thiệu) (2012), Phong tục tập quán một số dân tộc thiểu số, Nxb Văn hóa Dân tộc, Hà Nội.
  4. Dương Hà Hiếu (2008), Tục cưới xin của người Hmông Trắng ở Thuận Châu, Sơn La (Qua nghiên cứu tại bản Nậm Giắt, xã Phỏng Lái), Tạp chí Dân tộc học, số 3.
  5. Nguyễn Thị Huyền (2019), Hôn nhân hiện nay của người H’mông Đen ở xã Tà Xùa, huyện Bắc Yên, tỉnh Sơn La, Luận văn Thạc sĩ Dân tộc học, Học viện Khoa học xã hội Việt Nam.

 

Khèn Mông là nhạc cụ phong phú về cách diễn đạt âm thanh, cảm xúc và có vị trí quan trọng trong đời sống văn hóa của người Mông. Chiếc khèn là kết quả của quá trình lao động kiên trì, tài hoa, khéo léo. Người thợ đã gửi gắm tâm huyết của mình qua quy trình chế tác một cách tỉ mỉ để có được sản phẩm hoàn hảo. Là nghề thủ công truyền thống với chất liệu có sẵn trong tự nhiên dễ sử dụng, đặc biệt là nhu cầu sử dụng loại hình nhạc cụ này khá cao trong cộng đồng. Quy trình sản xuất được đúc kết từ lâu đời, sản phẩm phù hợp với tập tính sử dụng, đáp ứng các nhu cầu cũng như điều kiện sống của người Mông. Ngoài ra để có cái nhìn đa dạng và phong phú hơn chúng tôi đề cập tới một số đặc điểm của khèn Mông dưới đấy:

Trong quá trình nghiên cứu về nghề gốm của người Thái xã Mường Chanh, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La, nhóm nghiên cứu đã thực hiện điền dã và sưu tầm được một số bình gốm tại các gia đình trong xã và một số xã lân cận trong tỉnh. Các hiện vật hiện được lưu giữ tại Trung tâm Nghiên cứu Văn hóa các dân tộc Tây Băc – trường Đại học Tây Bắc. Các bình gốm được lưu giữ là những hiện vật mang tính độc bản, hình thức, chất liệu. Đặc biệt, các mô-típ hoa văn thể hiện rất rõ nét kỹ thuật chế tác trên gốm của cộng đồng người Thái Đen ở Sơn la.